Tìm hiểu về sự pha trộn dân tộc trong đất nước đa sắc tộc Malaysia

Có sự khác biệt văn hóa riêng biệt giữa ba cộng đồng dân tộc chính của Malaysia, đó là Mã Lai, Trung Quốc và Ấn Độ. Ngoài ra còn có các Peranakan (người lai Trung -Mã) và các cộng đồng chủng tộc hỗn hợp khác cần đưa vào xem xét. Cùng với các quốc gia thổ dân lâu đời - những người Orang Asli của bán đảo Malaysia - bao gồm các nhóm sắc tộc khác nhau và nói hơn 100 ngôn ngữ và tiếng địa phương.

CHIA SẺ:Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterPin on PinterestShare on LinkedIn

Kuala Lumpur vẫn tiếp tục là một thành phố của những người nhập cư như nó đã từng trước đây. Họ là cộng đồng người Indonesia và Thái Lan (nhiều người trong số họ sống ở Kampung Baru) cũng như Pakistan, Bangladesh, Nepal và công dân Myanmar (Miến Điện). Một số người trong số họ là dân tị nạn. Người từ Trung Đông cũng đã định cư ở đây. So với họ thì dân số người nước ngoài từ phương Tây tương đối nhỏ.

Người Mã Lai

Tất cả người Malay là người Hồi giáo, đều có nghĩa vụ phải làm theo đạo Hồi, nhưng nhiều người cũng tuân theo tín ngưỡng cũ và Adat. Với nguồn gốc của nó trong thời kỳ đạo Hindu, Adat đặt trọng tâm lớn về trách nhiệm tập thể và duy trì sự hài hòa trong cộng đồng. Điều đó gần như chắc chắn là một yếu tố trong thiện chí chung giữa các nhóm dân tộc khác nhau ở Malaysia.

Không nên đánh giá thấp sự hấp dẫn lâu dài của Kampung (làng) với tinh thần cộng đồng của nó. Họ thường khao khát một cuộc sống đô thị, mặc dù họ có điều kiện sống như người phương Tây ở nhà. Về nguyên tắc, người dân có vị thế ngang nhau, mặc dù sẽ có một người trưởng sẽ được bổ nhiệm đứng đầu theo sự giàu có, kinh nghiệm hoặc kiến thức tâm linh. Lãnh đạo truyền thống, người sáng lập của làng sẽ được bổ nhiệm là trưởng thôn (gọi là penghulu hoặc ketua Kampung) và thường các thành viên trong cùng một gia đình cũng sẽ trở thành nhà lãnh đạo. Một penghulu thường là haji, một trong những người đã thực hiện cuộc hành hương đến thánh địa Mecca.

Các nhà lãnh đạo Hồi giáo, thầy tế, giữ một vị trí quan trọng trong cộng đồng như những người nắm giữ kiến thức Hồi giáo và lãnh đạo. Tuy nhiên, theo định kỳ, ngay cả những người đô thị Malaysia có kiến thức cũng sẽ tìm đến pawang (pháp sư, người có kiến thức về siêu nhiên về mùa màng và tự nhiên) hoặc bomoh (chữa bệnh bằng tâm linh với kiến thức về thảo dược chữa bệnh và khả năng khai thác sức mạnh của thế giới của các linh hồn) để được tư vấn trước khi thực hiện bất kỳ quyết định thay đổi cuộc sống nào.

Người Trung Quốc

Các phong tục tôn giáo chi phối nhiều về cuộc sống của những gia đình cộng đồng người Hoa từ lúc mới sinh ra. Những phong tục tập quán ấy được ghi lại một cách cẩn thận để xem xét về chiêm tinh sau này trong cuộc sống, nghi lễ và nghi thức. Nó được phổ biến để xem gậy thoảng Malaysia Trung Quốc nhang bên ngoài ngôi nhà và doanh nghiệp của họ. Phật giáo phổ biến đến nỗi mà người Trung – Mã nào buổi sáng cũng phải thắp hương thờ phật. Ngoài ra, họ còn có một sợ dây gắn bó mạnh mẽ vớivùng lãnh thổ ban đầu của Trung Quốc, nguồn gốc quê hương của họ. Họ lập ra những Clan House để người trong gia tộc tụ họp với nhau.

Người Trung Quốc đã bắt đầu đặt chân đến khu vực đất nước Malaysia vào đầu thế kỷ 15. Họ chủ yếu đến từ các tỉnh miền nam Trung Quốc như Phúc Kiến. Họ kết hôn với phụ nữ Mã Lai, sinh ra thế hệ sau, được gọi là người Peranakan. Họ đã phát triển nền văn hóa lai riêng biệt, trong khi những người định cư sau này, từ tỉnh Quảng Đông và Hải Nam, bị mắc kẹt chặt chẽ hơn với văn hóa của quê hương, bao gồm cả việc giữ gìn tiếng địa phương của họ.

Nếu có một khía cạnh văn hóa mà tất cả những người Trung – Mã đều đồng lòng, thì đó là tầm quan trọng của giáo dục. Nó đã là một chủ đề rất nhạy cảm trong cộng đồng người Nếu có một khía cạnh văn hóa mà tất cả những người Trung – Mã đều đồng lòng, thì đó là tầm quan trọng của giáo dục. Nó đã là một chủ đề rất nhạy cảm trong cộng đồng người Trung – Mã kể từ những năm 1960. Đó là giai đoạn mà những trường trung học có sự tham gia giảng dạy của 1 nửa thành phần là người Trung Quốc đã dần dần không còn nữa. Thay vào đó là giới thiệu những chính sách có lợi cho người Mã Lai trong những năm đầu 1970. Các ràng buộc giáo dục thuộc Malaysia đối với những người Trung Quốc đã dẫn đến nhiều gia đình phải làm việc gấp đôi mà vẫn thấy khó khăn, không đủ tiền học phí cần thiết cho con đi học trường tư trong nước và các tổ chức nước ngoài.

Người Ấn Độ

Giống như những người định cư Trung Quốc, người Ấn Độ ở Malaysia đến từ nhiều vùng của tiểu lục địa và có nền văn hoá khác nhau tùy thuộc vào tôn giáo của họ. Tín ngưỡng chủ yếu là đạo Hindu, đạo Hồi, đạo Sikh và Thiên chúa giáo. Hầu hết họ là người Tamil, ban đầu đến từ các khu vực nay là Tamil Nadu ở miền nam Ấn Độ, nơi truyền thống Hindu giáo diễn ra rất mạnh. Sau cùng là người Hồi giáo Ấn Độ từ phía bắc cũng đến Malaysia, đi cùng với người Sikh. Tôn giáo chi phối nhiều phong tục tập quán của cuộc sống gia đình người Ấn – Mã,. Tuy nhiên, có một lễ kỷ niệm mà tất cả người theo đạo Hindu và nhiều người Malaysia cùng tham gia là Deepavali.

Một người Ấn Độ được đào tạo tiếng Anh đã luôn luôn đóng một vai trò nổi bật trong xã hội Malaysia, và tầng lớp thương nhân cũng có số lượng đáng kể. Tuy nhiên, một tỷ lệ lớn người Ấn Độ là người lao động nhập khẩu, có giao kèo bởi người Anh. Họ vẫn là một tầng lớp lao động nghèo.

Người Orang Asli

Người dân bản địa của Malaysia – được gọi chung là người Orang Asli. Họ từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng trong thương mại, chỉ cho thực dân về lâm sản và hướng dẫn nhũng người thăm dò đến mỏm thiếc và kim loại quý. Họ cũng đóng vai trò trinh sát và hướng dẫn cho lực lượng nổi dậy trong trường hợp khẩn cấp trong những năm 1950.

Mặc dù vậy, người Orang Asli vẫn chịu thiệt thòi ở Malaysia. Theo số liệu của chính phủ được công bố gần đây nhất trong tháng 12 năm 2004, bán đảo Malaysia chỉ có dưới 150.000 người Orang Asli (người chính gốc). Trong đó có 80% dân số sống dưới mức nghèo khổ, so với mức trung bình toàn quốc là 8,5%. Các bộ tộc thường được phân loại thành ba nhóm: nhóm Negrito, nhóm Senoi, và Proto Malay. Ba nhóm được chia thành 18 bộ lạc, nhỏ nhất là Orang Kanak chỉ với 87 thành viên.

Có hàng chục ngôn ngữ bộ lạc khác nhau và hầu hết người Orang Asli tôn theo tín ngưỡng duy vật, mặc dù đã có những nỗ lực mạnh mẽ để thuyết phục họ sang đạo Hồi.

Kể từ năm 1939, mối quan tâm về người Orang Asli đã được thực thi bởi một chuỗi các cơ quan quản lý chính phủ. Biểu hiện mới nhất là JAKOA (www.jakoa.gov.my), một từ viết tắt cho Jabatan Kemajuan Orang Asli (Cục Phát triển Orang Asli) ra đời vào năm 2011. Mục tiêu chính của JAKOA là ‘bảo vệ người Orang Asli và bảo vệ cách sống của họ từ sự phát triển và khai thác nhanh chóng từ bên ngoài cũng như cung cấp thiết bị và hỗ trợ về giáo dục, sức khỏe và sự phát triển kinh tế xã hội’.

Trong quá khứ, quyền sử dụng đất của người Orang Asli thường không được công nhận. Còn các dự án nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thì đòi hỏi đất đai của họ, tuyên bố của họ thường được coi là bất hợp pháp. Vì vậy, vẫn tồn tại câu hỏi là làm thế nào để chính phủ thay đổi điều này.

 

Theo Dulichvietnam.com.vn

Đánh giá bài viết này